Google Translate

Bộ sưu tập Hoa Lan

Tài nguyên dạy học

Sắp xếp dữ liệu

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Dự Báo Thời Tiết

    Chào mừng quý vị đến với Tiếng Anh Và Bài Hát Thiếu Nhi.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Đọc Truyện - Thơ > Vườn thơ >

    Thơ Nguyễn Trãi (Gia Huấn Ca)

      Gia Huấn Ca - Nguyễn Trãi

       nguyen_trai_120  Nguyễn Trãi (1380 - 1442). Quê gốc làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sinh ra ở Thăng Long trong dinh ông ngoại là quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, về sau dời về sống ở làng Ngọc Ổi, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Ông là con trai của Nguyễn Phi Khanh (trước đây có tên là Nguyễn Ứng Long), vốn là học trò nghèo thi đỗ thái học sinh và bà Trần Thị Thái - con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc nhà Trần.
        Lời Mở Đầu

    Đặt quyển sách, vắt tay nằm nghĩ,
    Hễ làm người dạy kỹ thì nên,
    Phấn son cũng phải bút nghiên,
    Cũng nhân tâm ấy há thiên lý nào*.

    * Há thiên lý nào: nghĩa là thiên lý tại nhân tâm, lẻ phải ở lòng người
       

    Dạy Vợ Con

    Nhân thong thả lựa vần quốc ngữ,
    Làm bài ca dạy vợ nhủ con:
    Lời ăn nết ở cho khôn,
    Chớ nên đa quá, đa ngôn chút nào!
    Ăn mặc chớ mỹ miều chải chuốt,
    Hình dung đừng ve vuốt ngắm trông,
    Một vừa hai phải thì xong,
    Giọt dài giọt ngắn cũng không ra gì?
    Khi đứng ngồi chứ hề lơ lẳng,
    Tiếng nhục nhằn nữa nặng đến mình,
    Hạt mưa chút phận lênh đênh,
    Tấm son tạc lấy chữ trinh làm đầu.
    Kìa mấy kẻ làu làu tiết ngọc,
    Đem sắt đanh nguyện lúc lửa châm,
    Con hiền cha mẹ an tâm,
    Một nhà khen ngợi, nghìn năm bia truyền.
    Nọ những kẻ nước nguyền non hẹn,
    Thấy mùi hoa bướm nghển, ong chào,
    Miệng đời dê diếu biết bao,
    Đông ra quốc pháp, nhục vào gia thanh.
    Đem người trước lấy mình ngắm lại,
    Khôn ba năm đừng dại một giờ,
    Đua chi chén rượu câu thơ,
    Thuốc lào ngọt nhạt, nước cờ thấp cao.
    Đám dồi mỏ ra vào săn sóc,
    Lại bài phu, tam cúc, đánh đinh,
    Đố mười, chẵn lẻ, đố kinh,
    Tổ tôm, kiệu chắn, sám quanh tứ chiều.
    Đi đứng đắn, chớ điều vùng vẫy,
    Khi tối tăm đèn phải phân minh,
    Hoặc khi hội hát linh đình,
    Đ ược lời dạy đến thì mình hãy ra.
    Ra phải có mẹ già em nhỏ,
    Đ ừng đánh đàn, đánh lũ không hay,
    Nói đừng chau mặt, chau mày,
    Nghe ra ngậm đắng nuốt cay hay nào!
    Của tằn tiện, chắt chiu hàn gắn,
    Khách buôn tàu chưa hẳn nơi đây !
    Cũng đừng vắt nước cổ chày,
    Tiếp tân tế lễ là ngày nên hoang.
    Ăn ở chớ lòng mang khoảnh khắc,
    Mua bán đừng điêu trác đong đưa,
    Mua đừng ráo riết quá lừa,
    Bán đừng bo xiết, ích ta hại người

     

        Với Cha Mẹ

    Dù nội, ngoại hai bề cũng vậy,
    Đừng trành hanh bên ấy, bên này,
    Cù lao đội đức cao dày,
    Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.
    Bởi thương đến mới năng mắng quở,
    Muốn cho ta sáng sủa hơn người,
    Ân cần kẽ tóc, chân tơ,
    Tấm lòng chép để mấy lời tạc ghi.
    Đừng nặng nhẹ, tiếng chì tiếng bấc,
    Đ ừng vùng vằng mặt vực, mặt lưng,
    Có thì sớm tiến trưa dâng,
    Cơm ngon canh ngọt cho bằng chị em.
    Dù chẳng có thì yên một phận,
    Người trên ta há giận ta sao!
    Hoặc khi lầm lỗi điều nào,
    Đánh đằng cửa trước, chạy vào cửa sau.
    Khi ấm lạnh ta hầu coi sóc,
    Xem cháo cơm, thang thuốc mọi bề,
    Ra vào thăm hỏi từng khi,
    Người đà vô sự, ta thì an tâm.
    Việc báo hiếu phải chăm chữ hiếu,
    Kiệm hay phong cũng liệu tùy ngơi,
    Đừng điều tranh cạnh chia bai,
    Xấu trong làng nước, để cười mai sau


       

    Với Chồng

    Đạo vợ chồng tình sâu nghĩa ái,
    Lại chẳng nên mặt tái, mày tăm,
    Chuyện đâu bỏ đấy cho êm,
    Đừng đem bên ấy về gièm bên ta.
    Sách có chữ "nhập gia vấn húy",
    Khi nói năng phải kỹ kiêng khem,
    Dịu dàng tiếng thuận lời mềm,
    Cứ lời chồng dạy mới yên cửa nhà.
    Chớ nên cậy mình ta tài sắc,
    Chồng nói ra nhiếc móc chê khen.
    Nói càn như ở bậc trên,
    Thường khi động đến tổ tiên quá lời.
    Cơn giận đến, sự đời ngang ngửa,
    Dở dói ra nát cửa tan nhà,
    Chữ "tùy" là phận đàn bà,
    Nhu mì để dạ, chua ngoa gác ngoài.
    Dù lỗi phận gặp người tửu sắc,
    Hay gặp người cờ bạc lưu liên,
    Nhỏ to tiếng dịu lời êm,
    Dần dà uốn mãi may mềm được chăng !
    Phải chồng ngược, cắn răng chịu khổ,
    Chớ nghiêng đầu, ngảnh cổ thiệt thân,
    Duyên may gặp được văn nhân,
    Thuộc câu "tương kính như tân" làm lòng.
    Nghiệp đèn sách khuyên chồng sập sã,
    Tiếng kê minh gióng giả đêm ngày,
    Khuyên chồng nhớ đến đạo thầy,
    Vật dâng lớn nhỏ gọi nay lễ thường.

     

       

    Với Vợ Lẻ

    In lấy chữ tao khang chi nghị,(*)
    Đừng mang câu đố kỵ chi thường,
    Dây bìm cho tựa cành vàng,(*)
    Trước chàng đẹp mặt, sau nàng đỡ tay.
    Câu "đường cái" xưa nay cũng vậy,
    Trai làm nên lấy bảy lấy ba,
    Lấy về hầu hạ nhà ta,
    Thêm hòe, nẩy quế có là con ai?(*)
    Cũng da thịt cũng tai mắt thế,
    Kém ta nên phận ế hoa ôi,
    Nghĩ tình ăn cạnh nằm ngoài,
    Ấm no nên xót lấy người bơ vơ.
    Thế mới phải phép thờ phu tử,
    Ấy mới là đạo xử hài hòa,
    Chữ "Tùy" rắn khúc nghi gia,
    Môn đường thong thả, một nhà vẻ vang.


    (*) Tao khang chi nghị: tình nghỉa tấm cám, nói về vợ chồng lúc còn hàn vi
    (*) Dây bìm cho tựa cành vàng: ý nói vợ lẻ nương tựa nhờ chồng
    (*)Hòe: cây hòe, hòe thường mượn để ví con quý
    Quế: cây quế, cũng mượn để ví con giỏi

     

        Với Bằng Hữu Của Chồng

    Kìa những đứa mặt thường cau có,
    Khách đến nhà chửi chó mắng mèo,
    Cất lời nặng cỡ đá đeo,
    Đã ra thét tớ lại vào mắng con.
    Khách về đoạn sợ mòn mất chiếu,
    Chồng ra đường chẳng kẻo mặt mo!
    Hễ ngày bạn hữu giao du,
    Sai người trải chiếu, sắp đồ tiếp ra.
    Dù trăm giận thì ta để bụng,
    Có trọng người mới trọng chồng ta.
    Tùy người thết đãi rượu trà,
    Nhớ rằng: Của gửi chồng ta đi đường!

     

      Với Chị Em

    Ấy là vẹn cương thường bằng hữu,
    Lại phải tường trong đạo chị em,
    Đạo em thì phải trông lên,
    Đạo chị trông xuống cho êm đẹp chiều.
    Miếng bùi ngọt chia đều như một,
    Khi nắng mưa ấm sốt đỡ tay,
    Với nhau như bát nước đầy,
    Lá lành đùm bọc bóng cây rườm rà!
    Đạo thúc tẩu một nhà minh bạch,*
    Lánh hiềm nghi tăm tích rõ ràng,
    Trộm trông bóng đuốc Vân Trường,
    Nức danh ba nước treo gương muôn nhà.


    Thúc tẩu: em chồng với chị dâu
    Vân Trường: Ông Quan Vân Trường, Quan Vũ
    Ba Nước: thời tam quốc bên tàu, Ngụy, Thục, Ngô



       

    Với Trong Họ Ngoài Làng

    Cả trong ngoài cùng là đàn cháu,
    Xem như con yêu dấu chẳng sai,
    Ðồng quà, tấm bánh hôm mai,
    Chớ điều dằn vật, chớ lời gieo đanh.
    Từ họ mạc, láng giềng, hàng xóm,
    Cũng ở cho trong ấm ngoài êm,
    Tiếng chào, tiếng hỏi cho mềm,
    Chẳng khinh ai cũng chẳng hiềm oán ai.

     

       

    Với Những Khi Sản Dục

    Ấy ngôn hạnh các lời hằng giữ,
    Lại cần điều cư xử cho tuyền,
    Hễ ngày sóc, vọng, hối, huyền,
    Cùng ngày nguyệt tín phải khuyên dỗ chồng.
    Khi thai sản trong phòng gìn giữ,
    Học cổ nhân huấn tử trong thai,
    Dâm thanh chớ để vào tai,
    Ác ngôn chớ chút bợn lời sam sưa!
    Từ xuất nhập, khởi cư, hành động,
    Có lễ nghi nghiêm trọng đoan trinh,
    Đứng ngồi chính đại quang minh,
    Cho bằng phẳng thế, chớ chênh lệch mình.
    Chớ vịn cao cũng đừng mang nặng,
    Đừng ăn đồ cay đắng canh riêu,
    Đừng ăn ít, chớ ăn nhiều,
    Nuôi từ trong dạ khỏi điều lo xa.
    Khi sinh nở thai hòa vô sự,
    Cẩn từ khi trong cữ ngoài tuần,
    Chiều sương chớ để áo quần,
    Đỉnh đầu phải cúi, bước chân phải dò.
    Nơi bếp vách đừng cho hơ lửa,
    Ngọn đèn hoa chớ quở quá ngôn,
    Kiêng khem trăm sự vuông tròn,
    Trước mình yên dạ, sau con ít sài.


    Ngôn Hạnh: lời nói và nết ở, hai trong 4 đức của nử lưu, công, dung, ngôn, hạnh

    Sóc: mùng một
    Vọng: ngày rằm
    Hối: ba mươi
    Huyền: thượng huyền (mùng 8), hạ huyền (22). Hai ngày này trăng hình như vòng cung nên gọi là huyền

     

       

    Với Con Cái

    Ngày con đã biết chơi biết chạy,
    Đừng cho chơi cầm gậy, trèo cao,
    Đừng cho chơi búa chơi dao,
    Chơi vôi, chơi lửa, chơi ao có ngày.
    Lau cho sạch không hay dầm nước,
    Ăn cho vừa, đừng ước cao lương,
    Mùa đông tháng hạ thất thường,
    Đ ừng ôm ấp quá, đừng suồng sã con.
    Dạy từ thuở hãy còn trứng nước,
    Yêu cho đòn bắt chước lấy người,
    Trình thưa, vâng dạ, đứng ngồi,
    Gái trong kim chỉ, trai ngoài bút nghiên.
    Gần mực đen, gần đèn thời sáng,
    Ở bầu tròn, ở ống thời dài,
    Lạ gì con có giống ai,
    Phúc đức tại mẫu là lời thế gian.
    Làm mẹ chớ ăn càn, ở dữ,
    Với con đừng chửi rủa quá lời,
    Hay chi thô tục những lời,
    Hôm nay cụ cụ, ngày mai bà bà.
    Gieo tiếng ra gãy cây, gãy cối,
    Mở miệng nào có ngọn có ngành,
    Đến tay bụt cũng không lành,
    Chồng con khinh rẻ, thế tình mỉa mai!
    Ấy những ai ở đời ngoa dại,
    Khôn thời chừa, mới phải đứng người,
    Sinh con thời dạy thời nuôi,
    Biết câu phải trái lựa lời khuyên răn.

     

        Với Dâu Rể

    Tuổi cả khôn, hôn nhân trạch phối,
    Giàu đừng tham, khó đói chớ nề,
    Dâu hiền, rể thảo tìm về,
    Xem tông xem giống kẻo mê mà lầm.
    Xử với rể một niềm kính trọng,
    Dù dở hay, đừng giọng mỉa mai,
    Với dâu, dạy bảo phải lời,
    Bắt khoan bắt nhặt, biết ai cho vừa!

    Hôn nhân trạch phối nghỉa là kén chọn lứa đôi cho con

    Xem tông xem giống: tục ngử có câu lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống

       

    Với Tôi Tớ

    Gương giáo tử nhường đưa mặt nhận,
    Mực trì gia đặt hẳn ân uy,
    Bọt bèo là phận nô tỳ,
    Dạy nghiêm, ở thảo hai bề vẹn hai.
    Có câu ví "Chiều người lấy việc",
    Chẳng há nên ráo riết người ta,
    Hay thì nó ở lâu ra,
    Dở thì nó bước nào ta bận gì.
    Một đôi kẻ phải khi lỡ độ,
    Có thì cho chẳng có thì thôi,
    Chẳng nên nhiếc mắng nhiều lời,
    Cơ hàn hầu dễ có ai muốn gì.

     

     

    (ST - Internet)

     



    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Hữu Dự @ 09:46 14/07/2009
    Số lượt xem: 2052
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến