Chào mừng quý vị đến với Tiếng Anh Và Bài Hát Thiếu Nhi.
Thơ Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương (chữ Hán: 胡春香) là nhà thơ Nôm nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam.
![]()
ĐỘNG HƯƠNG TÍCH
Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già đến dở dom.
ĐÈO BA DỘI
Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương reo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng ?
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
THIẾU NỮ NGỦ NGÀY
Muà hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc chải cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm,
Một lạch Đào nguyên suối chửa thông.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì cũng dở, ở không xong.
DỖ NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÓC CHỒNG
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng
Nín đi kẻo thẹn với non sông.
Ai về nhắn nhủ đàn em bé,
Xấu máu thì khem miếng đỉnh chung
(St)
Trần Hữu Dự @ 20:09 30/04/2009
Số lượt xem: 3918
- Thơ Bùi Chí Vinh (29/04/09)
- Thơ Hàn Mặc Tử (29/04/09)
- Thơ : Học Từ Vựng Tiếng Anh (28/04/09)
- Thơ Du Tử Lê (27/04/09)
- Thơ Xuân Diệu (25/04/09)
MẮNG HỌC TRÒ DỐT
(Hồ Xuân Hương)
Mắng Học Trò Dốt I
Khéo léo đi đâu lũ ngẩn ngơ ?
Lại đây cho chị dạy làm thơ.
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa.
----------------------------------
Mắng Học Trò Dốt II
Dắt díu đưa nhau đến cửa chiền
Cũng đòi học nói, nói không nên,
Ai về nhắn bảo phường lòi tói,
Muốn sống đem vôi quét trả đền.
ĐÁNH ĐU
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng !
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân đã biết xuân chăng tá ?
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không.
VỊNH CÁI QUẠT
Mười bảy hay là mười tám đây,
Cho ta yêu dấu chẳng rời tay.
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc,
Rộng hẹp dường nào, cắm một cay.
Càng nóng bao nhiêu càng mát nấy,
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy,
Chúa dấu vua yêu một cái này.
DỆT CỬI
Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt đâm ngang thích thích mau.
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả,
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ,
Chờ đến ba thu mới dãi màu.
THÂN PHẬN ĐÀN BÀ
Hỡi chị em ơi có biết không ?
Một bên con khóc một bên chồng.
Bố cu lỏm ngỏm bò trên bụng,
Thằng bé hu hơ khóc dưới hông.
Tất cả những là thu với vén,
Vội vàng nào những bống cùng bông.
Chồng con cái nợ là như thế,
Hỡi chị em ơi có biết không ?
(Theo yeuemtrondoi)
GIẾNG NƯỚC
(Hồ Xuân Hương)
Ngõ ngang thăm thẳm tới nhà ông
Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng.
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nước trong leo lẻo một dòng thông.
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá diếc le te lách giữa dòng.
Giếng ấy thanh tân ai chẳng biết,
Đố ai dám thả nạ dòng dòng.
HANG CẮC CỚ
Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt ra đôi mảnh hỏm hòm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông gieo vỗ phập phòm.
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm !
CÁI QUẠT
Một lỗ sâu sâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dáng tự bao giờ.
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa,
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa ?
KHÔNG CHỒNG MÀ CHỬA
Cả nể cho nên sự dở dang
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc (1)
Phận liễu sao đà nẩy nét ngang (2)
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa ?
Mảnh tình một khối thiếp xin mang
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Không có, nhưng mà có, mới ngoan.
(1) Hai câu này Hồ Xuân Hương chơi chữ. Chữ "thiên" là "trời", viết nhô nét phẩy lên thành chữ "phu" là "chồng". (Theo chữ Hán)
(2) Chữ "liễu" (phận liễu ám chỉ thân con gái) thêm nét ngang thành chữ "tử" là "con". (Theo chữ Hán)
KẼM TRỐNG
Hai bên thì núi giữa thì sông
Có phải đây là Kẽm Trống không ?
Gió giật sườn non khua lắc cắc,
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.
Ở trong hang núi còn hơi hẹp,
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng
Qua cửa, mình ơi nên ngắm lại
Nào ai có biết nỗi bưng bồng.
(Theo yeuemtrondoi)
TỰ TÌNH I
(Hồ Xuân Hương)
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn.



Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,
Vừng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.
Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Ðâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con.
TỰ TÌNH II
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom(1)
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc.(2)
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om(3)?
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom!(4)
(1) Bom: Mỏm đất.
(2)-(3) Mõ và chuông dùng trong nhà chua có tác dụng làm nguôi dịu lòng người. Ở đây nhà thơ vận dụng khác. Mõ thảm, chuông sầu: Tiếng lòng sầu thảm trong đêm khuya vắng lặng không khua không đánh mà vẫn vang lên dữ dội những âm thanh khô khốc, ầm ĩ, cốc như mõ và om như chuông.
(4) Già tom: Như già đanh.Tục ngữ: "Trẻ dôi ra, già co lại".
TỰ TÌNH III
Chiếc bách (1) buồn vì phận nổi nênh,
Giữa giòng ngao ngán nỗi lênh đênh.
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,
Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván (2) cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn (3) những tấp tênh.
(1) Tức chiếc thuyền bằng gỗ bách tức gỗ thông, do tích xưa Cung Bá, Thái tử nước Vệ chết sớm, vợ thủ tiết, có làm bài thơ "Thuyền bách" tỏ ý không tái giá, nên thường được dùng để ví người đàn bà góa ở vậy .
(2) Do câu "tham ván bán thuyền" mà ra .
(3) Ý nó khó toàn được nghĩa cũ, ví như ôm cây đàn sang gảy nơi thuyền khác.
(Theo yeuemtrondoi)